Cần nghiên cứu tổ chức liên kết các khâu để tạo thương hiệu
|
Kỳ cuối: Xây dựng thương hiệu bền vững Cá tra hàng năm mang về hàng tỷ USD, được xác định là sản phẩm chiến lược của ngành thủy sản nhưng người nuôi hiện đang hoang mang trong thời điểm khó khăn này. Nghị định 36/2014/NĐ-CP vừa ra đời như một cứu cánh mở lối cho loài cá da trơn ấy phát triển bền vững trong tương lai. >> “Giải cứu” nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL: Bài toán khó (kỳ 1) NÔNG DÂN “KHÓC”, DOANH NGHIỆP “CƯỜI” Thời điểm năm 2000, ngành cá tra phát triển mạnh đến khó tin, người nuôi thu lãi hàng tỷ đồng/ha ao nuôi trong khi DN chế biến nhanh chóng phất lên như diều gặp gió. Thời kỳ “làm nên lịch sử” đó đã mang về hàng tỷ USD/năm cho đất nước. Theo số liệu của Tổng cục Thủy sản, trong vòng 10 năm trở lại đây diện tích nuôi cá tra tăng gấp 5 lần, gần 6.000 ha, sản lượng tăng 36 lần chiếm 34,4% tổng giá trị xuất khẩu (XK) ngành thủy sản, đóng góp 2% GDP cả nước. Theo thống kê của Hiệp hội cá tra Việt Nam, tại TP.Cần Thơ có 17 DN chế biến cá tra XK, trong đó chỉ có 7 hoạt động ổn định, 5 trong tình trạng lây lất, số còn lại “chết tức tưởi”. An Giang có 17 DN với 23 nhà máy chế biến thì chỉ một nửa hoạt động cầm chừng. Đồng Tháp quy hoạch hơn 2.700 ha nuôi, đến tháng 5-2014 chỉ thả được hơn 1.320ha, hiện tỉnh có 15 DN chế biến cá tra đã xây dựng vùng nguyên liệu, chiếm hơn 66% diện tích nuôi toàn tỉnh, nhưng chỉ hoạt động cầm chừng, đạt khoảng 45% công suất thiết kế. Thời gian gần đây, ngành cá tra có dấu hiệu chững lại, người nuôi rơi vào khủng hoảng do không bán được. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở đầu ra không ổn định, vướng nhiều rào cản kỹ thuật. Doanh nghiệp chế biến XK bùng nổ, cung vượt cầu dẫn đến việc cạnh tranh không lành mạnh về giá bán và chất lượng. Để tìm được nơi tiêu thụ, nhiều DN “ăn xổi ở thì” giảm giá cá nguyên liệu trong nước để hạ giá cá tra XK ở thị trường nước ngoài, gây không ít thiệt hại cho người nuôi. Trong chuỗi liên kết, người nuôi đóng vai trò quan trọng để tạo ra thành phẩm cá tra nhưng thường bị DN chi phối. Khi đầu ra không ổn định, nông dân phải gánh toàn bộ chi phí, không có quyền mặc cả hay thương lượng với DN, trong khi “nhiều DN còn mua thiếu, không chịu trả “tiền tươi, thóc thật”, có khi thanh toán chậm hàng tháng trời, tiền lời bán cá chỉ đủ bù vào lãi ngân hàng khiến dân cụt vốn, không tái sản xuất được”, ông Nguyễn Hữu Nguyên - Chủ nhiệm HTX thủy sản Châu Phú, tỉnh An Giang - chia sẻ. Bên cạnh đó, từ khi nhiều DN tự nuôi cá tra để chế biến, XK thì người dân càng bị ép giá. Chỉ đến khi giá giảm, DN mới bắt đầu quan tâm đến người nuôi. Do vậy trong hầu hết hợp đồng ký với DN thì bất lợi thuộc về hộ nuôi. TẠO CHUỖI LIÊN KẾT, KHẲNG ĐỊNH THƯƠNG HIỆU Để ngành cá tra trở lại thời hoàng kim, cần tổ chức lại sản xuất gắn với năng lực chế biến và nhu cầu thị trường; bên cạnh đó tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo uy tín với các đơn vị nhập khẩu. “Người dân không nên nuôi theo kiểu tự phát, mạnh ai nấy làm, mà cần tập hợp lại, thành lập mô hình HTX, nuôi theo tiêu chuẩn thị trường và nhu cầu của nhà nhập khẩu. Ngoài ra, nhà nước cần liên kết với các DN XK, chế biến thức ăn và ngân hàng bảo lãnh vốn mua thức ăn nuôi cá cho xã viên đồng thời hỗ trợ thêm lãi suất ngân hàng để người nuôi có vốn mở rộng sản xuất và khi tạo được chuỗi liên kết, buộc DN phải bao tiêu sản phẩm”, ông Nguyên đề nghị. Nghị định 36/2014/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20-6-2014 đã trở thành cứu cánh giúp ngành cá tra vượt qua “kiếp nạn” này, tại mục B khoản 3 điều 6 quy định: tỷ lệ mạ băng (nước mạ băng trên trọng lượng tổng) đối với sản phẩm cá tra XK phải phù hợp với nước nhập khẩu. Các trường hợp khác, tỷ lệ này không quá 10%. Đây là việc làm cần thiết để chấn chỉnh tình trạng mạ băng vượt quá mức cho phép, ảnh hưởng tới uy tín và sản phẩm cá tra Việt Nam tại một số thị trường XK như thời gian qua. Mỗi thị trường có những yêu cầu khác nhau đối với cá tra Việt Nam nên cả người nuôi lẫn DN đều rối. Do vậy, pháp luật cần quy định, công bố danh mục tiêu chuẩn quốc tế được công nhận phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam. Điều này không chỉ giúp cá tra Việt Nam khẳng định thương hiệu trên thế giới mà còn là nền tảng để thực hiện khoản 5 điều 4 Nghị định 36 sắp có hiệu lực: “Đến ngày 31-12-2015, các cơ sở nuôi cá tra thương phẩm phải áp dụng và được chứng nhận thực hành nuôi trồng thủy sản tốt theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc chứng chỉ quốc tế phù hợp quy định pháp luật Việt Nam”. Bên cạnh đó cần sắp xếp lại các DN chế biến kiểu “ăn xổi ở thì”, tạo ra sản phẩm kém chất lượng, cạnh tranh không lành mạnh, bán phá giá, gây mất uy tín. Ông Nguyên nhấn mạnh: “Chính phủ có thể khoanh nợ cũ của DN nào làm ăn uy tín, chất lượng, có thể cho vay thêm để số vốn này chỉ quay vòng trong chuỗi liên kết, không nên hỗ trợ DN vừa chế biến vừa tự nuôi để tránh dẫn đến các hệ lụy nêu trên”. Mặt khác, cần tập trung áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chế biến sản phẩm cá tra. Nghiên cứu, chế tạo các loại thực phẩm, phi thực phẩm cho giá trị kinh tế cao như: sản phẩm đóng gói, mỹ phẩm, dược phẩm... để nâng cao giá trị XK. Khi đã tạo dựng được thương hiệu, phát triển thêm hình thức XK trực tiếp cho các hệ thống phân phối, trung tâm thương mại... nhằm loại bỏ khâu trung gian, nâng hiệu quả xuất khẩu. |
0 nhận xét:
Đăng nhận xét